Phong Trào
Hướng Đạo
MỘT TRĂM NĂM PHỤC VỤ GIỚI TRẺ
Phong Trào Hướng
Đạo Thế Giới (HĐTG) năm nay kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100. Phong trào
phát xuất do sáng kiến của Huân tước Baden Powell (1857-1941), một cựu
trung tướng nổi danh sau trận chiến bảo vệ thành Mafeking (Nam Phi)
với quân số khoảng một ngàn, khi thành bị bao vây bởi tám ngàn địch
quân là thổ dân Boers nổi dậy kháng cự chế độ thuộc địa.
Chủ ý mới đầu của
ông khi trở về Anh quốc năm 1903, mong trợ giúp nhiều nhóm thanh thiếu
niên Anh vì chứng kiến việc họ tự động kết hợp để áp dụng những điều
ông viết trong cuốn Aids to Scouting (Giúp đỡ quân tiền thám – 1902)
thâu thập từ đoàn thiếu sinh quân đảm nhiệm canh phòng, dò thám địch
quân, mà một phụ tá của ông tổ chức ở Mafeking để phụ lực quân chính
qui. Các thiếu sinh quân ấy đã tỏ ra can đảm, tháo vát, hy sinh và tận
tụy, lập nhiều thành tích và chiến công chẳng kém những binh sĩ trưởng
thành.
Vì sự hưởng ứng
quá nông nhiệt và số trẻ em tự nhận là Scout (hướng đạo – HĐ) gia tăng
quá đông đảo, hoạt động hỗn tạp thiếu qui củ, ông thấy cần thiết có
phương thức đoàn ngũ hóa và một phương án sinh hoạt cho họ. Ông gom
thử một nhóm thiếu niên ở khu xóm nghèo của thủ đô, dẫn đi cắm trại
trên đảo Brownsea, ở cửa sông Thames gần London (1907 – sau coi như
năm sinh của phong trào Hướng Đạo Thế Giới – PT-HĐTG). Nhóm được phân
chia thành từng « đội » tám em một, thi đua thử nghiệm chương trình
phác họa, gồm trò chơi, thám hiểm, quan sát thiên nhiên, khắc phục trở
ngại, tận dụng những phương tiện thô sơ có thể kiếm tìm tại chỗ. Nhận
thấy kết quả mỹ mãn của phương pháp giáo dục bằng cách giao trách
nhiệm và cho trải qua thử thách của đời sống ngoài trời, ông hoàn tất
bản thảo rồi ấn hành cuốn Scouting for Boys (Hướng Đạo cho Trẻ Em -
1908) trình bày phương án hoạt động tuần tự cho lứa tuổi thiếu sinh
(từ 11 đến 15, 16). Cuốn này là sách gối đầu giường của thiếu niên
Anh, sau trở thành thủ bản cho đoàn sinh hướng đạo (HĐ) khắp nơi. Ý
kiến độc đáo của ông đã phát động một phong trào quốc tế lan rộng rất
mau ngoài Anh quốc, qua nhiều nước châu Âu, châu Á (Nhật Bản là tiên
phong), châu Phi, châu Mỹ La Tinh,
và trong các thuộc địa Anh, Bỉ, Hòa Lan,Pháp, bao quanh thế giới.
Để đào tạo người
trưởng thành chịu trách nhiệm đoàn ngũ và hướng dẫn đơn vị HĐ, Baden
Powell viết cuốn Aids to Scoutmastership
– Chỉ dẫn cho Trưởng HĐ (nay Trưởng gọi là
Scouters) - rồi lập trại huấn luyện trưởng ở khu đất thuộc
Gilwell Park gần London do một nhà hảo tâm tặng để sử dụng vào việc
này.Trại Gilwell trở thành trung tâm huấn luyện bắt buộc (cho tới cuối
thập niên 80) những dự bị Trại Trưởng Quốc Gia của mỗi hội thành viên
Phong Trào HĐTG (1920), tất cả đã tôn vinh ông là Chief Scout (thủ
lãnh). Khi được Hoàng gia Anh ban thưởng về công trạng của ông trong
địa hạt giáo dục trẻ, ông lấy tên trại làm tước hiệu : Lord Baden
Powell of Gilwell. Ông rút lui khỏi HĐ, về hưu dưỡng ở nơi ông sinh
trưởng (Kenya, Nam Phi) năm 1939, khi chưa bùng nổ Thế Chiến II, rồi
tạ thế ở đó năm 1941. Mộ phần của ông – có chung hũ tro phu nhân, Lady
Olave, Thủ lãnh Nữ HĐTG – nay được chính quyền Kenya tôn là National
Monument (lăng tẩm quốc gia).
Tổ Chức của Phong
Trào HĐTG (World Organisation of the Scout
Movement – WOSM) hiện nay có 28 triệu hướng đạo sinh và trưởng, với số
thành viên quốc gia, lãnh thổ biệt lập (như Monaco, Luxembourg, v.v…),
cùng những tổ chức thiện nguyện quốc tế làm việc xã hội, giáo dục
thiếu nhi, cứu trợ, bảo vệ môi sinh, nhiều hơn nhân số thành viên
chính thức của Liên Hiệp Quốc. Văn phòng trung ương đặt ở Geneva (Thụy
Sĩ) ; phụ tá có 6 Văn Phòng Miền (Region) : Africa (châu Phi), Arab
(Trung Đông), Asia-Pacific (châu Á và Hải Dương Châu), Eurasia
(Turkey, Ukraine và Liên bang Nga), European (châu Âu), và
Interamerican (châu Mỹ).
Phong Trào Hướng Đạo
Việt Nam
Năm 1930, đoàn
hướng đạo Việt Nam đầu tiên thành lập ở Hà Nội, do trưởng Trần Văn
Khắc, nhân chiến dịch cổ động phong trào sống khỏe sống hùng với hoạt
động thể dục thể thao. Thời buổi ấy, xã hội Việt Nam đang thực sự
chuyển mình, trút bỏ dần một số tư tưởng và lề lối sinh hoạt gò bó hủ
lậu thời Nho học để mong đuổi kịp trào lưu văn minh tiến bộ ở các nước
Tây phương. HÐVN xuất hiện như một thành phần tiền phong trong cuộc
vận động tân học, theo nếp sống mới. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn giáo
dục của HÐVN đã triển khai từ nền tảng nguyên lý HĐ do Baden Powell đề
xướng, trong chiều hướng phù hợp với tâm tình chung của dân tộc.
Phong trào HĐVN
trải qua nhiều biến cố lịch sử, gồm hai trận chiến tranh dữ dội. Trận
VN-1 từ 1946 đến 1954, tạm kết thúc với sự chia cắt đất nước và cuộc
di cư hơn một triệu dân từ Bắc vĩ tuyến 17 vào miền Nam.
Kế tục là trận VN-2 (Cộng Hoà Nhân Dân Việt Nam và đồng minh Nga Xô,
Trung cộng, tấn công Việt Nam Cộng Hòa có hậu thuẫn rồi sự tham gia
chống đỡ của Hoa Kỳ - 1965 đến 1971) ; hậu quả là cuộc di tản hỗn loạn
thê thảm trong tháng 4-1975 khi các tỉnh ở cao nguyên, ở miền Trung,
các tỉnh phía Đông miền Nam rồi Saigon lần lượt xụp đổ. Tiếp theo biến
cố ngày 30-4-1975, là cuộc vượt biển của nhiều đợt thuyền nhân, nhóm
vượt biên lẻ tẻ ít người sống sót qua Campuchia rồi Thái Lan, Hongkong
và vài nước lân bang, suốt từ 1977 đến đầu thập niên 90.
Ðầu thập kỷ 80,
nội san Giữ Vững (chi nhánh Pháp) trong kỷ niệm 50 năm HĐVN, đã ví
Phong trào HĐ tại nước ta như con phượng hoàng thần thoại Tây phương,
có đặc tính hồi sinh từ nhúm tro tàn. Quả thực HÐVN đã gặp mấy kỳ đại
nạn tưởng chừng làm cho đoản mệnh.
Tổ chức - hội Nam
HÐ, chưa có hội Nữ - tan rã năm 1946 khi trận chiến VN-1 lan tới thủ
đô Hà Nội ; năm 1950 mới phục hoạt một cách hạn chế trong những thị
trấn Nam-Bắc-Trung không do cộng sản kiểm soát. Chưa được bao lâu, đất
nước chia cắt bởi Hiệp định Genève 1954 ; chỉ có hai liên đoàn không
đủ túc số (vài ba chục người) nguyên ở khu vực Phát Diệm, với một ít
trưởng và đoàn sinh thuộc các đơn vị phía Bắc sông Bến Hải theo làn
sóng di cư
vào miền Trung, miền Nam. Sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ từ 1955
đến 1959 trên phần đất VNCH bị chặn đứng do cuộc chiến VN-2. Hoạt động
HÐ ở miền Nam rút cuộc phải đình chỉ khi Saigon bị chiếm đóng : ngày
03.5.1975, ủy ban tiếp quản ra quyết định giải tán hai Hội Nam và Nữ
HÐVN, tịch thu tài sản.
Không ai ngờ bóng
dáng HÐVN xuất hiện ngay ở hải ngoại trong trại tạm trú đợt tị nạn đầu
tiên (Subic Bay, Guam, Fort Chaffee, Fort Pendleton ; sau đó ở Poulo
Bidong (Mã Lai), Poulo Galang (Indonesia), Singapore, Thái Lan,
Hongkong, Philippines) rồi nhiều đơn vị lần lượt được gây dựng lại ở
xứ định cư (Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Hòa Lan, Anh, Na Uy, Hoa Kỳ, Canada, Úc.
Đã từng có đơn vị HĐVN ở Đại Hàn (South Korea), ở Okinawa (Nhật Bản)
nhưng không bền vì dân tị nạn sau đã phân tán.
Hệ thống kết hợp
và hành động chung hiện nay được hình thành tốt đẹp năm 1983. Hiến
Chương Costa Mesa - địa điểm thuộc tiểu bang California Hoa Kỳ, nơi
họp hội nghị phong trào hải ngoại - căn cứ theo Điều Lệ Tổ chức HÐ
Hoàn Vũ, xác định đường hướng hoạt động trong khuôn khổ thỏa hiệp với
các hội HÐ bản địa, và hội nhập xã hội mới mà vẫn giữ truyền thống dân
tộc.
Cơ cấu cao nhất
gọi là Hội Đồng Trung Ương (HĐTƯ), thực ra là Ủy Ban Quốc Tế của
PT-HĐVN hải ngoại, không có trụ sở nhất định. Hội nghị thường kỳ 4 năm
của HĐTƯ bầu một Ban Thường Vụ cho nhiệm kỳ, chịu trách nhiệm điều
hành guồng máy kết hợp các đơn vị ghi danh trong các Chi Nhánh (nước
định cư) và Miền (riêng ở Hoa Kỳ), chỉ đạo công tác giáo dục truyền
thống (văn hóa VN và truyền thống HĐVN) ở mỗi CN và Miền, phát động và
tổ chức những sinh hoạt chung (hội nghị Trưởng, Họp Bạn Thẳng Tiến,
chiến dịch quyên góp để cứu trợ nạn nhân thiên tai, v.v..). Trại họp
bạn quốc tế Thẳng Tiến 1 triệu tập năm 1985 ; tới nay đã có 7 trại kế
tục (tổng cộng 8 trại : hai lần ở Pháp, một ở Canada, một ở Úc, bốn ở
Hoa Kỳ). Trại Thẳng Tiến VIII vừa tổ chức vào hè 2006 ở Nam Cali.
Hướng Đạo
« chui » !
Một hiện tượng
được đặc biệt thưởng thức bởi PT-HĐTG, là chỉ riêng ở VN dưới chế độ
CS, trái với trường hợp ở Nga Xô, ở Đông Âu và các nước có mô hình xã
hội chủ nghĩa trên thế giới, có sự hiện diện của PT-HĐVN do những
trưởng cũ kín đáo hội tụ đoàn sinh của mình để khuyến khích giữ tinh
thần với lý tưởng HĐ, đơn giản là giữ lời tuyên hứa sống theo Lời Hứa
và Luật HĐ.
Đơn vị « chui »
đầu tiên là Đạo An Tịnh (Thanh Nghệ Tĩnh) hoạt động thầm lén từ 1945
đến 1948 ở vùng Việt Minh, dù trưởng đứng đầu là ông Võ Thành Minh,
cựu Tổng Ủy Viên hội HĐ Trung Kỳ rồi Tổng Thư Ký Liên Hội HĐ Đông Pháp
(1931-1945) đã rời vùng mật khu và VN qua Pháp năm 1949 để vận động
hòa bình.
Những đơn vị HĐ
« chui » âm thầm hoạt động ở Saigon và lân cận ngay từ 1977-78, nay đã
là HĐ « bán công khai » ở nhiều thị trấn miền Nam và miền Trung (lãnh
thổ VNCH trước), do thỏa hiệp mặc nhiên của nhà cầm quyền địa phương.
Tuy nhiên, kế
hoạch tái lập một hội HĐ quốc gia chưa có hy vọng thành tựu. Tổ chức
HĐTG thoạt đầu qua nhịp cầu HĐVN hải ngoại, đã tìm cách liên lạc với
nhiều đơn vị chui ; cũng đã thăm dò chính quyền Xã Hội Chủ Nghĩa về
khả năng cho phép HĐ hoạt động chính thức và gia nhập HĐTG. Nhưng mọi
cuộc vận động của HĐTG và của chính các HĐVN quốc nội đều thất bại, vì
chính sách độc đảng chuyên chính trong mọi lãnh vực chính trị xã hội
khiến cho tuy đã có luật ấn định thủ tục lập hội đoàn dân sự, chưa có
hội đoàn tự lập (non governmental organisation – O.N.G) nào được phép
ra đời.
Cạm Bẫy Chính
Trị
Sức sống của Phong
trào được xây đắp ngay từ lúc sơ khởi do sự áp dụng hợp thời hợp cảnh
mục tiêu và phương pháp HĐ với tinh thần và sinh hoạt được Việt hóa
sau khi du nhập, cũng như những phương án giáo dục, những thể thức
huấn luyện phỏng theo mẫu và kinh nghiệm của HÐ Pháp thời tiền chiến.
Phương thức Việt hóa giúp cho HÐVN mở đường, khai phá lãnh vực sinh
hoạt thanh thiếu niên khi ấy còn hoàn toàn mới lạ, và đóng góp ít
nhiều sáng tạo vào nền văn hóa dân tộc cho phong phú thêm (xin coi bài
Văn Hóa HÐVN, tập san Giúp Ích số 4, Chi nhánh Pháp).
Ðồng thời khi
thành lập, Phong trào có vị thế đặc biệt thuận lợi : HÐVN vừa là đoàn
thể thế tục đầu tiên dành cho giới trẻ Việt Nam, vừa là tổ chức Việt
Nam duy nhất được công khai tỏ bày lòng yêu nước mà không bị đàn áp
thẳng tay. Vào thời điểm nói trên, dư âm cuộc khởi nghĩa Yên Bái của
Nguyễn Thái Học, đầu xứ Nhu với các đồng chí, còn vang dội. Nhà cầm
quyền thuộc địa khó ngăn chặn nổi sức lôi cuốn của một phong trào đề
cao lòng trung thành với tổ quốc qua Lời Hứa và Luật, qua nghi thức và
tập tục như lễ chào cờ HĐ, qua sự sử dụng địa danh có thành tích lịch
sử hay tên anh hùng liệt nữ làm danh hiệu đơn vị, qua sự khai thác
những biến cố trọng đại nhắc nhở tinh thần tự chủ, hy sinh chống ngoại
xâm hay sự đô hộ của nước ngoài trong các bài ca, trò chơi và thử
thách lên
hạng ở chương trình Ngành ... Có thể nói rằng uy danh mà HÐVN đạt tới
trước năm 1945 phần lớn, do thành quả qui tụ nhiều phần tử trẻ trung,
có học, có ý thức vững mạnh về nền độc lập tương lai của xứ sở, có
tinh thần hy sinh phục vụ đất nước, quyết chí tu thân và chau dồi khả
năng - Sắp Sẵn (Be Ready), theo châm ngôn HÐ - ngõ hầu gánh vác vai
trò thích hợp để phục vụ đất nước trong tương lai.
Chính vì những ưu
điểm ấy, HÐVN trở nên mục tiêu tranh thủ của đảng cộng sản Ðông Dương
còn ẩn náu dưới khẩu hiệu xách động bài phong phản đế, chưa hé lộ sự
hệ thuộc chủ nghĩa Mác-xít và trận tuyến Ðệ Tam Quốc Tế do Nga-Sô lãnh
đạo. Kế hoạch của đảng CS có cơ thành tựu khi chiêu dụ được mấy vị giữ
trách vụ trọng yếu trong hội HÐ Bắc Kỳ và Trung Kỳ, dẫn đầu là các
trưởng Hoàng Ðạo Thúy, Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, bí mật tham gia
Mặt Trận Việt Minh. Sau ngày 19.8.1945, mấy trưởng này quả nhiên lôi
cuốn được nhiều trưởng khác và tráng sinh theo họ phục vụ tân chính
quyền.
Nhưng mưu toan
trói buộc toàn thể Phong trào vào chính sách và hệ thống ngoại vi của
đảng CS bị phá hư. Năm 1946, đại hội hợp nhất HÐ ba Kỳ họp ở thủ đô Hà
Nội đầu phiếu bác bỏ đề nghị lấy danh xưng « Hội HÐ Cứu Quốc », tức là
mặc nhiên trở thành một đoàn thể có cái đuôi bắt buộc
« cứu
quốc » trong Mặt Trận Việt Minh (sau đổi ra Mặt Trận Tổ Quốc). Chủ tọa
buổi tranh luận lịch sử dịp hội nghị HĐ ba Kỳ ở Hà Nội (1946) là tr.Võ
Thành Minh.
Những ý kiến phản đối chỉ căn cứ trên tinh thần HÐ cùng tôn chỉ của
Phong trào. Ở thời điểm, chưa có sự phân định rành rẽ hai khối quốc
cộng. Đa số HÐVN dự họp không chấp nhận danh hiệu « cứu quốc », tuy họ
cùng đồng bào lúc đương thời chưa có đủ dữ kiện và kinh nghiệm để vạch
trần chủ đích cộng sản che dấu sau chiêu bài độc lập.
Chủ trương « chơi
thẳng thắn » tức là áp dụng đúng và đầy đủ nguyên lý với tôn chỉ HÐ,
tiếp tục chịu đựng áp lực chính trị suốt thời gian HÐVN phục hoạt
(1950), rồi rút về nửa lãnh thổ phía Nam (1955), và ở hoàn cảnh tị nạn
(từ 1975). Áp lực nảy sinh từ hai tuyến đối nghịch : một bên là cộng
sản, một bên là chống cộng. Cả hai bên đều muốn dùng HÐ như một lợi
khí trong cuộc chiến đấu toàn diện với đối phương.
Áp lực phía chống
cộng chỉ có một lần tương đối gay go xảy ra năm 1963, lúc chính quyền
miền Nam lập Tổng đoàn Thanh Niên Thanh Nữ Cộng Hoà. HÐVN tránh khỏi
lệnh gia nhập tổ chức bán quân sự đó nhờ tài ngoại giao của Hội trưởng
Nguyễn Thành Cung khéo trình bày lợi hại. Nếu bị ép buộc đứng vào đoàn
thể do chính quyền lập ra và chỉ huy, HÐVN sẽ bị Tổ chức HÐTG khai
trừ. Ðiều này không khỏi gây chấn động với phản ứng bất lợi trong công
luận quốc tế, vào lúc chính thể đang biện giải tính chất tự do và dân
chủ. Vị hội trưởng đạt mục tiêu mà chưa cần hé lộ giải pháp dự liệu
sẵn vào trường hợp bị dồn tới chân tường : HÐVN thà rằng tự giải tán
chứ không thể phản bội tôn chỉ cùng lòng tin của đoàn sinh và gia
đình.
Phía CS, sau thất
bại năm 1946, bắt buộc phải dùng thủ đoạn nham hiểm mềm dẻo, nhưng áp
lực của họ thực dai dẳng và khó chống đỡ hơn do những biện pháp kín
đáo nhằm khuynh đảo và lũng đoạn. Họ đã thất bại hai lần trong hoạt
động công khai. Lần thứ nhất năm 1955, họ toan huy động đoàn sinh Đạo
Nhà Bè, Saigon, cùng với sinh viên học sinh biểu tình ủng hộ Phong
Trào Hòa Bình của luật sư Nguyễn Hữu Thọ - sau là chủ tịch Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam rồi thủ tướng chính phủ cách mạng miền Nam. Đạo
Nhà Bè nhận lệnh giải tán khi đang thực hiện bích chương, biển ngữ cho
đám biểu tình ; những phần tử quấy rối không sử dụng được đồng phục
với phù hiệu HĐ. Lần thứ hai, họ không thúc đẩy nổi những Phật tử HĐ
tiếp tay khơi hận thù chia rẽ lương giáo trong khoảng 1963-65. Điều
đáng ghi nhớ là lúc những nhóm quá khích xung đột ở thủ đô Saigon, chỉ
có HĐ mặc đồng phục mới có thể tới tại chỗ cứu cấp người hai phe bị
thương tích mà không bị bên nào hành hung, trong khi xe cứu thương với
cảnh sát đều không dám bén mảng.
Những đảng viên
CS, cựu HĐ
Nỗi khổ tâm của
những nggười HĐ trung thực, là nhóm đi theo phục vụ CS (1941 đến 1975)
không chịu nhìn nhận sự cách biệt căn bản giữa tinh thần và phương
pháp, tổ chức cùng sinh hoạt HĐ, đối với chủ nghĩa MácXít và mô hình
chính thể chuyên chính không tôn trọng nhân phẩm nhân quyền. Bốn nước
xã hội chủ nghĩa còn sống sót, vẫn tồn lưu chính thể độc tài chuyên
đoán, cốt lõi vẫn là bộ máy công an trị. Hai nước Cuba và Bắc Hàn tiếp
tục mô hình Staline-Mao lỗi thời thoái hóa, mặc dù nhân dân nghèo khổ
(Cuba), thậm chí chết đói (Bắc Hàn). Hai nước đội vỏ «đổi mới» dân chủ
hóa ở Trung quốc, ở Việt Nam, song song với nền kinh tế thị trường vẫn
dành ưu tiên cho xí nghiệp quốc doanh chuyên lãng phí, ăn cắp của công
và nuôi dưỡng nhũng lạm (kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa), tiếp tục phát triển guồng máy đàn áp của công an để ngăn chặn
tự do ngôn luận và thông tin, tự do tín ngưỡng, tự do lập nghiệp đoàn,
hiệp hội, chính đảng, tức là không áp dụng những thỏa hiệp với định
ước quốc tế về nhân quyền, dân quyền, về tự do kinh doanh mà chính họ
đã ký kết.
Những đảng viên tự
nhận bây giờ còn là HĐ, đã bôi nhọ thanh danh tiết tháo HĐ vì thái độ
xu nịnh, luồn cúi để ăn theo với đám đông thối nát nhũng lạm, câm nín
trước thảm cảnh đông đảo nạn nhân bạo lực bóc lột dã man trắng trợn
cho được tạm thời yên thân, hưởng chế độ ưu đãi và bổng lộc, vị trí
cao trên thang xã hội dành cho những phần tử ngoan ngoãn khuất phục,
tuy họ có vài tấm gương trước mắt để tự kiểm tự tu tỉnh.
Một người HĐ thành
thực yêu nước bị phản bội, là ông Tạ Quang Bửu. Ông sớm nhận ra cốt
lõi phi nhân tàn ác của đảng CS với chiêu bài độc lập giả tạo gian
dối, nhưng không có cách gì chuyển đổi hoặc khắc phục. Ông ở địa vị
không thể đào thoát, nên đành cố gắng làm giảm thiểu sự bất công, sự
phi lý, trong phạm vi hạn chế ông có trách nhiệm. Ông đã mật khuyên
trưởng Tôn Thất Thiện, Đổng lý Văn phòng của ông, láng giềng và bạn
học cũ, đừng theo chính phủ Hồ Chí Minh rút lên mật khu (1946), mà hãy
trở về tiếp tục việc học ngõ hầu hữu dụng cho nước cho nhà sau này.
Ông tỏ ý phản đối chính sách « hồng hơn chuyên » khi làm Bộ trưởng bộ
Đại Học. Bị nghi ngờ và theo dõi, cô lập, ông xin về hưu dưỡng, tăng
gia sản xuất (nuôi heo) để phụ vào số lương không đủ cho ông và vợ
sinh sống, không còn được khẩu phần của cán bộ cao cấp. Ông đã chết
trong sự câm lặng thờ ơ của chế độ, của giới chức địa phương, khác với
ông Hoàng Đạo Thúy, người đã lôi cuốn ông vào Mặt Trận Việt Minh và
đảng CS (có thể ông Hoàng Đạo Thúy đã gả con gái cho ông vì mục tiêu
này ?). Ông bố vợ cấp bậc dưới ông ở Bộ Quốc Phòng đã có đám tang
trọng thể do Quốc Hội đảm trách, được tuyên dương ầm ĩ công trạng trên
báo, trên đài.
Một đảng viên có
thái độ dứt khoát, là ông Nguyễn Hữu Đang. phụ trách trí vận ở miền
Bắc thời kỳ bí mật (trước 1945). Ông đã đóng vai một cố vấn tráng đoàn
Lam Sơn do ông Hoàng Đạo Thúy (có lẽ đã được ông chiêu dụ vào đảng ?)
đích thân điều khiển, hội tụ những tráng sinh sẽ vì tin cạy nơi Tráng
Trưởng, sẵn sàng đứng vào hàng ngũ Mặt Trận Việt Minh chưa ra công
khai. Sau ngày 19-8-1945, ông không còn nhận danh hiệu và tình thân
hữu HĐ nữa : đó chỉ là cái vỏ, áo khoác ở ngoài ông sử dụng cho nhu
cầu đảng vụ, xong việc là gỡ bỏ, quên đi khi trở về nguyên trạng. Bất
ngờ khi cùng với nhóm trí thức, văn nghệ sĩ (vụ án Nhân Văn Giai Phẩm)
thẳng thắn phê bình những chính sách phi nhân và chuyên chế của đảng
đã tạm chịu đựng khi còn chiến tranh, khí phách với hành động của ông
thực phù hợp với tác phong một người HĐ chân chính.
Những người HĐ
« dỏm » là đảng viên khi xưa và hiện tại lẽ ra phải biết tự thẹn với
danh hiệu HĐ tiếm lạm lợi dụng của mình, thực kém xa không thể ví với
tư cách một HĐ « vỏ » là Nguyễn Hữu Đang.
o
o
o
Sức sống vững mạnh
và bền bỉ qua 77 năm đầy sóng gió khiến người ta có thể tin tưởng ở
sức vươn trở dạy của phong trào ở quốc nội trong một nước dân chủ, hòa
bình và thịnh vượng tương lai. Lo gì phong trào không có dịp tưng bừng
kỷ niệm sinh nhật 100 năm (2030) trong viễn tượng ấy ở chính quê
hương.
Nghiêm Văn Thạch – Paris tháng 5-2007