Hướng Đạo Trưởng Niên Tâm tình Huớng Đạo Vài tấm hình lưu 
Nữ Công Gia Chánh Chia xẻ vui buồn  
Giai thoại văn chương Giai thoại lịch sử  
BÁO CHÍ HƯỚNG ĐẠO SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG   

   Mọi liên lạc, góp ý xin gởi về TruongNienParis@neuf.fr


 Giai thoại Lịch sử 

 

  Trở về

 

Danh nhân lịch sử

 

Lý Thường Kiệt (1019-1105)  

 

Danh tướng triều Lý, bằng những võ công oanh-liệt kỳ-vĩ (bắc đánh Tống, nam bình Chiêm) đã làm rạng rỡ một thời cho tổ-quốc.

 

-         Người ở phường Thái-Hòa, trong thành Thăng-Long, thân sinh là Lý An Ngữ, sung chức Sùng-ban Lang-tướng ở triều Lý. Cha mẹ đều mất sớm: nhờ phụ-ấm, Lý Thường Kiệt được bổ chức Kỵ-mã Hiệu-úy. Năm 23 tuổi (Tân tị 1041), ông sung chức hoạn-quan là Hoàng-môn Chỉ-hậu để chầu hầu trong cung vua. Vì có công phù-dực, khi Lý Thánh Tôn lên ngôi (1054), ông được thăng chức Bổng-hành-quân Hiệu-úy; chẳng bao lâu lại được thăng Kiểm-hiệu Thái-bảo là một chức lớn tại Triều.

 

Năm kỷ-dậu (1069), khi vua Thánh Tôn thân-chinh Chiêm-thành, Lý Thường Kiệt được chọn làm Ðại-tướng-quân đi tiên-phong, kiêm chức Nguyên-súy. Thắng trận tại sông Tu-Mao, chiếm kinh đô Phật-Thệ, rồi Lý Thường Kiệt đem quân đuổi bắt được vua Chế Củ. Nhờ cuộc thắng này, nước ta thêm được đất 3 châu Bố Chính, Ðịa Lý và Ma Linh do Chế Củ xin dâng để chuộc tội. Như thế Lý Thường Kiệt đã có công mở thêm bờ cõi cho nước ta và mở đường cho cuộc Nam tiến sau này cho các đời Trần, Hồ, Lê, Nguyễn.

 

Thắng trận trở về nước, Lý Thường Kiệt được phong Phụ-quốc Thái-phó, Dao-thụ Nam-bình Tiết-độ-sứ, Phụ-quốc Thượng-tướng-quân, Thượng-trụ-quốc, Khai-quốc-công và được ban hiệu Thiên-tử Nghĩa-nam (con nuôi vua). Bấy giờ ông 51 tuổi.

 

Sau đó, ông được cử chức Thái-úy, Ðồng Trung-thư Môn-hạ Bình-chương-sự, đúng sau Thái-sư Lý Ðạo Thành để cùng trông nom việc quốc-chính.

 

Khi Lý Ðạo Thành bị giáng chức rồi bị biếm vào Nghệ An (năm Canh Dần 1072), ông nắm trọn quyền hành trong tay với chức Ðôn-quốc Thái-úy, Ðại-tướng-quân, Ðại Tư-đồ, cho đến khi Lý Ðạo Thành được gọi trở về cùng ông chung lo việc nước.

 

Năm Ất mão 1075, vì biết vua Tống Thần-Tôn theo lời tâu bày của Tể-tướng Vương An Thạch đang sửa soạn gấp binh lương để đánh nước ta, Lý Thường Kiệt liền kéo chừng 10 vạn quân vào đất Tàu, lấy danh nghĩa sang giải phóng cho dân Trung-Hoa khỏi nạn khốn-khổ vì các phép thanh-miêu, trợ-dịch của Vương An Thạch, để đánh Tống, cốt phá-hủy được những chỗ tích lương trong nội địa Trung-Hoa.

 

Lý Thường Kiệt lãnh thủy-quân đánh vào ven bể Quảng Ðông, hạ được châu Khâm (ngày 20.11 năm Ất mão), chiếm châu Liêm (ngày 23-11) một cách dễ dàng; còn tướng Tôn-Ðản dẫn bộ binh sang đánh Ung Châu. Ðô-giám Quảng-tây là Trương Thủ Tiết đem binh đến cứu Ung Châu, bị Lý Thường Kiệt đón đánh ở Côn-Lôn-Quan (gầm Nam Ninh), phải chết ở trận tiền (mùng 4 tháng giêng năm Bính thìn 1076).

 

Tại Ung Châu, Tôn Ðản cố sức vây thành; hơn 40 ngày mới hạ được thành. Quan giữ thành là Tô Ðam cùng người nhà đều tử-tiết. Quân Nam vào thành giết hại có trên 5 vạn người.

 

Lấy xong Ung Châu, Lý Thường Kiệt kéo quân lên phía bắc; viên quan trấn-nhậm Tân Châu bỏ thành chạy trốn.

 

Sau đó, hay tin Vương An Thạch sắp sai bọn Quách Quì, Triệu Tiết cử đại hội binh mã cùng hội với Chiêm-Thành và Chân-Lạp chia đường sang đánh nước ta để báo thù, Lý Thường Kiệt hạ lệnh lui binh trở về để sắp đặt cuộc phòng-thủ, sẵn-sàng chống-cự với giặc Bắc.

 

Tháng chạp năm năm Bính thìn (1076), quân Tống kéo vào nước ta; Lý triều cử Lý Thường Kiệt đem binh đi cự địch. Nhưng lần lượt ải Quyết Lý rồi huyện Quan Lang thất thủ; quân Tàu vượt núi Bắc Sơn xuống đóng dọc theo bờ sông Như Nguyệt (tức sông Cầu) từ địa phận huyện Việt Yên đến chân núi Nham Biền ở huyện Yên Dũng.

 

Lý Thường Kiệt rốc toàn lực chống giữ, cho đắp đê bờ nam sồng Cầu thành một bức trường thành để ngăn đường quân Tống tiến về Thăng Long.

 

Giặc Bắc định vượt qua sông ở bến đò Như Nguyệt. Hai bến xáp chiến rất kịch liệt. Ðể cổ võ binh sĩ, Lý Thường Kiệt sai người giả làm thần nhân, núp trong đền Trương Hát ở bờ nam cửa sông Như Nguyệt, vào lúc đêm khuya cất lời mắng giặc và báo trước cho chúng biết sẽ  thua quân bằng 4 câu thơ chữ Hán:

Nam quốc sơn hà nam đế cư

Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lộ lai xâm phạm

Nhĩ đẵng hành khan thủ bại hư.

Dịch: (Nguyễn Ðổng Chi)

Nước Nam Việt có vua Nam Việt,

Trên sách Trời chia biệt rành rành

Cớ sao giặc dám dòm hành

Rồi đây bây sẽ tan tành cho coi !

 

Nhờ vậy quân ta phấn khởi đánh giặc và đẩy lui được binh Tống.

 

Tiếp đó, quân Lý đổ bộ lên bắc-ngạn sông, nhưng tại Kháo Túc, bị thua quân, phải rút lui. Bên Tống cho bắn đá xuống thuyền quân Nam như mưa; thuyền đắm rất nhiều, các hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn bị chết đuối, quân sĩ bị giết hại kể có hàng ngàn.

 

Lý Thường Kiệt lại trở về đóng giữ bờ nam sông Như Nguyệt: Quách Quì cũng không dám vượt qua sông để tấn công.

 

Lý triều sợ đánh lâu không lợi, bèn cho sứ sang Tống cầu hòa. Về phần vua Tống, thấy đánh lâu ngày mà quân không vượt qua khỏi sông Phù Lương, lại thêm có nhiều người chết vì không hạp thủy-thổ (theo "Nhị trình di thư" của Trình Di và Trình Hạo đời Tống dẫn lời Chính Thúc thì có đến 8 vạn phu vận lương và 2 vạn chiến binh chết vì lam chướng), phần thiếu lương thảo, nên nghe theo lời Tể tướng Ngô Sung (người thay thế Vương An Thạch) thuận hoãn binh lui về, nhưng vẫn chiếm giữ châu Quảng Nguyên (bấy giờ là châu Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng), châu Tư Lang (nay là châu Thượng Lang và châu Hạ lang) châu Tô, châu Mân (ở giáp giới tỉnh Cao Bằng và tỉnh Lạng Sơn) và huyện Quan Lang (Ông-Châu, tỉnh Lạng Sơn); mãi về sau, từ năm kỷ mùi (1079) đến năm giáp tí (1084), Tống mới lần lượt trả các đất Quảng Nguyên về cho Ðại Việt. Từ đó, nước ta và nước Tàu lại thống hiếu như  trước.

 

Lý Thường Kiệt, sau khi đánh lui quân Tống, vì có công lao đặc biệt, nên được cất lên ngang hàng các Hoàng tử và vẫn giữ chức Tể tướng, cho đến khi vua Lý Nhân Tôn thân chính, giao chức Tể tướng cho Lê Văn Thịnh.

 

Năm Nhâm tuất (1082) Lý Thường Kiệt được sai vào giữ trấn Thanh Hóa và được ăn lộc 1 vạn hộ ở Việt Thường.

 

Ở Thanh Hóa 19 năm; đến năm Tân sửu (1101, Lý Nhân Tôn, Long phù nguyên hóa năm đầu), ông được gọi về Kinh để kiêm chức Nội-thị Phân-thủ Ðô-áp Nha-hành-điện Nội-ngoại Ðô-tri-sự.

 

Năm Quí mùi (1103) ở Diễn Châu thuộc Nghệ An có Lý Giác làm phản; Lý Thường Kiệt vào đánh, Lý Giác thua chạy sang Chiêm Thành xúi giục quốc vương Chế Ma Na đến chiếm lại các đất Ðịa Lý, ma Linh, Bố Chính mà Chế Củ đã nhường ngày trước. Chế Ma Na liền nghe theo.

 

Tháng 2 năm Giáp thân (1104), Lý Thường Kiệt vâng mạng đem quân vào đánh. Quân Chiêm thua; Chế Ma Na xin trả lại 3 châu như cũ.

 

Ði đánh Chiêm Thành về được 1 năm thì Lý Thường Kiệt mất, thọ 86 tuổi. Vua Lý Nhân Tôn phong ông tước Trung Phụ Công, lại gia phong mỹ tự là Dũng Vũ; vua Trần Anh Tôn tấn phong làm Uy-thắng Ðại-vương; vua Tự Ðức nhà Nguyễn liệt Lý Thường Kiệt vào hạng Trung-đẳng-thần và ban hiệu Quảng-uy Lý Tôn-thần, hay Mục-uyên Vũ-dũng-thần, hay Thái-úy Việc-quốc-công Tôn-thần hay gọi tắt là Lý Thái-úy Tôn-thần.

 

Ðền thờ ông được dựng ở nhiều nơi: đền chính ở Ngọ Xá, phủ Hà-trung (Thanh Hóa); đền ở huyện Kim Ðộng (Hưng yên), ở huyện Vĩnh Thuận (gần trường đua ngựa ở Hà Nội).

 

(trích từ "Việt Nam danh nhân từ điển" của Nguyễn Huyền Anh, nhà sách Khai Trí, Saigon, in lần thứ ba, năm 1972)

 

 

 


Khởi sự ngày 31/04/2004                                                          

- Cập nhật hóa ngày 15/04/2004